Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

VÀNG VÀ HỢP KIM VÀNG (Phần 2)



Phần 2: VÀNG TRẮNG
Như đã đề cập trước đó, vàng nguyên chất quá mềm khi riêng rẻ một mình. Do đó, để dễ dàng trong chế tác trang sức, đòi hỏi phải tạo độ cứng cho vàng bằng việc bổ sung các kim loại khác vào vàng tạo thành hợp kim vàng như: Đồng, bạc, ni-ken, pa-la-đi và kẽm…


Ngoài đồng ra, tất cả các kim loại khác khi hợp kim với vàng có xu hướng làm cho màu của hợp kim vàng chuyển sang màu trắng nhiều hơn. Vàng có màu trắng (hay còn gọi là vàng trắng) đã được sử dụng để chế tác trang sức vào những năm 1920, coi như một sự thay thế cho bạch kim.
Bảng dưới đây, trình bày Thành phần hóa học của vàng trắng có chứa Pa-la-đi là chủ yếu

Bảng Thành phần hóa học của vàng trắng

Vàng (%)
Pa-la-đi (%)
Bạc (%)
Đồng (%)
Kẽm (%)
Ni-ken (%)
18K
75
20
5



75
15
10



75
10
15



75
10
10,5
3,5
0,1
0,9
75
6,4
9,9
5,1
3,5
1,1
75
15

3,0

7,0
14K
58,3
20
6
3
1

58,5
5
32,5
20,5
1,4

10K
37,5

52
4,9
4,2
1,4

Bổ sung bất kỳ kim loại nào có màu trắng vào vàng đều có xu hướng tẩy màu của vàng. Trong thực tế:
-          Ni-ken, pa-la-đi (và bạch kim) tẩy màu của vàng mạnh nhất
-          Bạc, kẽm tẩy màu của vàng vừa phải
-          Các kim loại khác tẩy màu của vàng ở mức độ trung bình hay hầu như không tẩy màu của vàng
Từ đây, phân ra hai loại vàng trắng cơ bản: Vàng trắng ni-ken và vàng trắng pa-la-đi.


Một hợp kim vàng - bạc có hàm lượng vàng 9K (37,5% vàng) khá trắng, mểm mại dễ kéo, được sữ dụng trong chế tác trang sức. Vàng trắng thực tế cũng có thể đạt đến hàm lượng vàng 21K.

Việc bổ sung pa-la-đi vào vàng làm tăng nhiệt độ nóng chảy, độ đàn hồi, độ bền kéo và độ cứng của vàng. Hợp kim vàng - pa-la-đi, còn gọi là vàng trắng, thường được sử dụng rộng rãi trong ngành kim hoàn. Ngoài ra, chúng còn là loại vật liệu thường dùng trong ngành nha khoa, làm các điện cực của bu-gi đánh lửa và là hợp kim thay thế bạch kim.

Đặc biệt, do nhu cầu về giá thành sản phẩm cần một giải pháp thay thế vật liệu rẻ hơn vàng trắng hay vàng – pa-la-đi là vàng có chứa ni-ken. Nhiều hợp kim mới được tung ra thị trường, hầu hết trong số đó dựa vào việc bổ sung kim loại man-gan làm trắng là chính. Một số là hợp kim của pa-la-đi tự do với các kim loại khác nên là hợp kim có hàm lượng pa-la-đi thấp.

Cờ-rôm và sắt cũng được sử dụng như chất làm trắng đối với vàng. Chúng có xu hướng tạo độ cứng cho hợp kim vàng, gây khó khăn trong việc xử lý và chế tác trang sức. Một số hợp kim này không có được màu trắng đạt chất lượng như mong muốn, nên phải mạ thêm một lớp rô-đi-um, một số trường hợp khác thì hợp kim bị rạn bề mặt làm xấu sản phẩm.

Pla-tin, cờ-rôm, cô-ban, kẽm, thiếc và bạc, tất cả đều sử dụng như chất tẩy trắng. Bạc có tính năng làm việc tuyệt vời nhưng tính chất tẩy trắng không cao. Đồng cũng được thêm vào hợp kim để cải thiện độ mềm dẻo trong phần lớn các hợp kim làm trắng.

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

VÀNG VÀ HỢP KIM VÀNG (Phần 1)



Phần 1: Màu của hợp kim vàng
Vàng là kim loại cực kỳ dễ kéo thành sợi. Một ounce vàng tương đương với 28g vàng có thể kéo ra được một dây vàng có chiều dài 80km (với đường kính dây vàng là 5micron).

Độ tinh khiết hay độ mịn của vàng trong đồ trang sức được qui định bằng đơn vị karat. Vàng 24karat (có thể viết là 24K hay 24kt) là vàng gần như nguyên chất thường dùng để chế tác trang sức. Vàng 24K cũng được gọi là vàng ròng vì hàm lượng vàng của nó lớn hơn 99,7% hàm lượng vàng nguyên chất. Bằng chứng, có loại vàng thậm chí còn tốt hơn vàng 24K, với hơn 99,95% độ tinh khiết, nhưng nó chỉ sử dụng cho mục đích định chuẩn để đo lường vàng và không được sử dụng trong ngành kim hoàn.


Hợp kim có màu vàng (gọi tắt là hợp kim vàng), thực ra màu vàng có trên hợp kim là màu của các kim loại pha trộn với vàng tạo nên. Vàng nguyên chất, nói chung là quá mềm, do đó để sử dụng trong chế tác đồ trang sức, gần như luôn luôn phải pha thêm các kim loại khác vào. Vấn đề là chọn màu vàng nào của hợp kim phù hợp màu vàng mong muốn trên trang sức chuẩn bị chế tác. Từ đó, tính toán, chọn lựa kim loại cần phải pha thêm vào vàng.


Các loại vàng 18K, 14K và 10K cho biết có bao nhiêu hàm lượng vàng nguyên chất có mặt trong hợp kim vàng. K là viết tắt của đơn vị karat, hệ thống đo lường này sử dụng để xác định chính xác hàm lượng vàng nguyên chất có trong từng loại hợp kim vàng theo qui định:

-          Vàng 24K là vàng nguyên chất

-          Vàng 18K là vàng chứa 18 phần vàng và 6 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 75% vàng

-          Vàng 14K là vàng chứa 14 phần vàng và 10 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 58,3% vàng

-          Vàng 12K là vàng chứa 12 phần vàng và 12 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 50% vàng

-          Vàng 10K là vàng chứa 10 phần vàng và 14 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 41,7% vàng. Vàng 10K là định lượng vàng có karat thấp nhất nhưng vẫn được gọi là vàng tại Mỹ.

Thậm chí vàng 18K, chỉ với 6 phần kim loại khác, cũng có thể tạo cơ hội cho người thợ kim hoàn thỏa sức pha trộn tạo nên muôn màu sắc của vàng. Trong bảng dưới đây, giới thiệu Thành phần hóa học của hợp kim vàng có hàm lượng vàng (karat) và màu sắc khác nhau:  
Bảng Thành phần hóa học của hợp kim vàng và màu sắc tương ứng
MÀU CỦA VÀNG
CẤU TẠO HỢP KIM
Vàng có màu vàng (22K)
Vàng       91,67%       Bạc           5%
Đồng             2%       Kẽm     1,33%    
Vàng có màu đỏ (18K)
Vàng           75%     
Đồng           25%      
Vàng có màu hồng (18K)
Vàng           75%       Bạc      2,75%
Đồng      22,25%      
Vàng có màu tím (18K)
Vàng           75%       Bạc           5%
Đồng           20%          
Vàng có màu trắng (18K)
Vàng                            75%      
Pla-tin hay Pa-la-di        25%
Vàng có màu trắng – xám (18K)
Vàng           75%       Sắt           17%
Đồng             8%          
Vàng có màu xanh lá nhạt (18K)
Vàng           75%     
Bạc             25%      
Vàng có màu xanh lá tươi (18K)
Vàng           75%       Các-mi      5%
Đồng           23%          
Vàng có màu xanh lá cây (18K)
Vàng           75%       Bạc         20%
Đồng             5%          
Vàng có màu xanh lá đậm (18K)
Vàng           75%       Bạc         15%
Đồng             6%       Các-mi     4%    
Vàng có màu trắng-xanh lơ hay xanh lơ (18K)
Vàng           75%     
Sắt              25%      
Vàng có màu đỏ tía
Vàng           80%     
Nhôm          20%      

Vàng thì có màu vàng và đồng thì có màu đỏ, chỉ có hai kim loại nguyên chất này có màu. Tất cả các kim loại khác có màu trắng hay màu xám. Thêm đồng vào vàng làm cho màu của vàng đỏ hơn. Thêm bạc, kẽm và các kim loại khác làm cho màu của vàng nhạt đi. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, hàm lượng của vàng (tính bằng karat) sẽ thấp đi hay cao lên, khi chúng ta cho thêm nhiều hay ít hàm lượng của các kim loại khác vào vàng tạo thành hợp kim vàng. Từ đây, chúng ta có thể suy luận rằng: Muốn cho vàng có màu thật sự của vàng thì hàm lượng vàng (tính bằng karat) trong hợp kim vàng phải cao.


Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

LÒ NẤU VÀNG 24K BẰNG ĐIỆN TRỞ DO THIỆN CHÍ CUNG CẤP



Trước đây, trên thị trường chỉ tồn tại loại lò nấu vàng 18K bằng điện trở. Còn để nấu vàng 24K  bằng điện trở, khó tìm thấy lò như ý. Do tính chất của lò điện trở là nhỏ gọn, tiện lợi khi di chuyển và có thể đặt ở bất cứ đâu nếu có điện, rất thuận lợi cho người thợ bạc làm việc, đôi khi chỉ là một khoảng không gian bằng cái bàn thợ bạc.

Việc giới hạn loại vàng của lò nấu điện trở (Chỉ nấu được vàng 18K trở xuống, không nấu được vàng 24K) cũng gây khó khăn cho người thợ bạc:
-       Khó khăn thứ nhất là phải tốn kém chi phí để đầu tư lò nấu công suất lớn hơn như Lò trung tần thì mới nấu chảy được vàng 24K vì lò trung tần có giá cao hơn lò điện trở.
-         Khó khăn thứ hai là mặt bằng đặt lò. Lò nấu điện trở đặt đâu cũng được, chỉ cần có ổ điện. Còn lò trung tần phải đặt nơi có nguồn nước, để cho nước vào làm mát lò và nước thải ra khỏi lò khi cần thiết. Nguồn điện là điện nhà nhưng phải bảo đảm đường dây điện chịu được tải của lò nấu trung tần, nếu không sẽ gây chạm cháy.
-         Khó khăn thứ ba là hiệu suất sử dụng lò hợp lý. Đối với lò nấu điện trở chỉ nấu những mẻ vàng có khối lượng nhỏ 1-2 kg, phù hợp nhu cầu nấu nhỏ lẻ. Còn muốn nấu số lượng vàng lớn thì chia nhỏ ra với nhiều lần nấu. Còn đối với lò nấu trung tần, khi nấu 1-2 kg vàng mà chạy nguyên cái lò thì phí phạm.

Đứng trước nhu cầu thực tế đòi hỏi, lò nấu vàng 24K bằng điện trở ra đời. Đây có thể xem như là một bước cải tiến không ngừng từ lò nấu vàng 18K bằng điện trở để cho ra lò nấu vàng 24K bằng điện trở. Tin vui đến với người thợ bạc, giúp họ bớt nhọc nhằn trong công việc, bớt nặng đầu về tài chính giữa thời buổi khó khăn, đòi hỏi tiết kiệm chi phí. 

THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA LÒ NẤU VÀNG 24 K BẰNG ĐIỆN TRỞ:
-       Điện áp của lò là 220Volt, 4,5Amp. Vậy công suất là 0,99KW, tương đương trong 1 giờ thì xài hết 1KW điện
-          Kích thước tổng của lò: 210 X 220 X (cao) 390 mm
-          Kích thước ngoài buồng lò: Đường kính lò là 170 mm, Chiều cao buồng lò là 250 mm
-        Nhiệt độ cài đặt sẳn trong lò là 1.0500C (Nhiệt độ cực đại là 1.5000C). Do đó, lò nấu được vàng 24K và các kim loại hay hợp kim có nhiệt độ thấp hơn 1.0500C.
-          Dung tích của cốc than: Nấu được khoảng 2-2,5kg vàng (Đã tính toán lượng vàng nóng chảy chỉ chiếm 70% dung tích cốc than)
-          Lò đạt nhiệt độ nóng chảy 1.0500C trong vòng 35phút
-          Đồng hồ báo nhiệt hiển thị kỹ thuật số có mức độ chính xác tương đối.
-        Vật liệu chế tạo bên trong lò (dây điện trở, gốm sứ chịu nhiệt, bông sứ…) là vật liệu ngoại nhập của THỤY ĐIỂN. Vỏ lò làm bằng inox.
-         Thời hạn bảo hành 06 tháng.
-          Lò nấu vàng 24K bằng điện trở sản xuất hoàn toàn trong nước.